Using background images with CSS

Bài này nhằm trình bày cách sử dụng hình nền background bằng CSS

Để đặt ảnh làm hình nền , dùng đoạn code
background-image: url(“http://yoursite.com/bg.gif”)
với http://yoursite.com/bg.gif” là đường dẫn đến file ảnh dùng làm hình nền .
Nào , bây giờ chuyện gì sẽ xảy ra nếu tấm ảnh đó không đủ lớn và lấp đầy màn hình . Trình duyệt Internet Explorer có thể tự động lặp đi lặp lại và lấp đầy màn hình nhưng các trình duyệt khác thì không … Vì thế bây giờ bạn cần quy định thuộc tính background-repeat ( lặp lại )
Cho nó .
background-repeat: repeat/repeat-x/repeat-y/no-repeat
Thuộc tính này có các tùy chọn như :
Repeat : lặp lại bất cứ chỗ nào còn trống .
repeat-x – Lặp theo đường chéo
repeat-y – Lặp theo chiều từ trên xuống
no-repeat – Không lặp lại .
Và nếu bạn muốn sắp xếp lại vị trí của tấm . Vâng để làm được điều đó chúng ta dùng thuộc tính background-position :
background-position: left/right/center/top/middle/bottom
Tui nghĩ các tùy chọn của thẻ này đã quá rõ nên không cần nói thêm gì nữa . Chúc các bạn vui vẻ

Left : Trái
Right : Phải
Center : giữa ( theo chiều ngang )
Top : trên cùng
Middle : ở giữa ( theo chiều dọc )
Bottom : dưới đáy

Hướng dẫn cài đặt forum VBB

http://quanghuy1101.googlepages.com/caidatforum.rar

Menu css4

<script type=”text/javascript”>
window.onload=montre;
function montre(id) {
var d = document.getElementById(id);
for (var i = 1; i<=10; i++) {
if (document.getElementById(‘smenu’+i)) {document.getElementById(‘smenu’+i).style.display=’none’;}
}
if (d) {d.style.display=’block’;}
}
</script>

<style type=”text/css”>
dl, dt, dd, ul, li {
margin: 0;
padding: 0;
list-style-type: none;
}
#menu {
position: absolute;
top: 1em;
left: 1em;
width: 10em;
}

#menu dt {
cursor: pointer;
background: #A9BFCB;
height: 20px;
line-height: 20px;
margin: 2px 0;
border: 1px solid gray;
text-align: center;
font-weight: bold;
}

#menu dd {
position: absolute;
z-index: 100;
left: 8em;
margin-top: -1.4em;
width: 10em;
background: #A9BFCB;
border: 1px solid gray;
}

#menu ul {
padding: 2px;
}
#menu li {
text-align: center;
font-size: 85%;
height: 18px;
line-height: 18px;
}
#menu li a, #menu dt a {
color: #000;
text-decoration: none;
display: block;
}

#menu li a:hover {
text-decoration: underline;
}

#mentions {
font-family: verdana, arial, sans-serif;
position: absolute;
bottom : 200px;
left : 10px;
color: #000;
background-color: #ddd;
}
#mentions a {text-decoration: none;
color: #222;
}
#mentions a:hover{text-decoration: underline;
}
</style>
<dl id=”menu”>
<dt onmouseover=”javascript:montre(‘smenu1′);”><a href=”#”>Menu 1</a></dt>

<dd id=”smenu1″ onmouseover=”javascript:montre(‘smenu1′);” onmouseout=”javascript:montre();”>
<ul>
<li><a href=”#”>Sub Menu 1.1</a></li>
<li><a href=”#”>Sub Menu 1.2</a></li>
<li><a href=”#”>Sub Menu 1.3</a></li>
</ul>
</dd>

<dt onmouseover=”javascript:montre(‘smenu2′);” onmouseout=”javascript:montre();”>Menu 2</dt>

<dd id=”smenu2″ onmouseover=”javascript:montre(‘smenu2′);” onmouseout=”javascript:montre();”>
<ul>
<li><a href=”#”>Sub Menu 2.1</a></li>
<li><a href=”#”>Sub Menu 2.2</a></li>
</ul>
</dd>

<dt onmouseover=”javascript:montre(‘smenu3′);” onmouseout=”javascript:montre();”>Menu 3</dt>

<dd id=”smenu3″ onmouseover=”javascript:montre(‘smenu3′);” onmouseout=”javascript:montre();”>
<ul>
<li><a href=”#”>Sub Menu 3.1</a></li>
<li><a href=”#”>Sub Menu 3.1</a></li>
<li><a href=”#”>Sub Menu 3.1</a></li>
<li><a href=”#”>Sub Menu 3.1</a></li>
<li><a href=”#”>Sub Menu 3.1</a></li>
<li><a href=”#”>Sub Menu 3.1</a></li>
</ul>
</dd>

<dt onmouseover=”javascript:montre(‘smenu4′);” onmouseout=”javascript:montre();”>Menu 4</dt>

<dd id=”smenu4″ onmouseover=”javascript:montre(‘smenu4′);” onmouseout=”javascript:montre();”>
<ul>
<li><a href=”#”>Sub Menu 4.1</a></li>
<li><a href=”#”>Sub Menu 4.1</a></li>
</ul>
</dd>
</dl>

Menu CSS 3

<script type=”text/javascript”>
window.onload=montre;
function montre(id) {
var d = document.getElementById(id);
for (var i = 1; i<=10; i++) {
if (document.getElementById(‘smenu’+i)) {document.getElementById(‘smenu’+i).style.display=’none’;}
}
if (d) {d.style.display=’block’;}
}
</script>

<style type=”text/css”>
body {
margin: 0;
padding: 0;
background: white;
font: 80% verdana, arial, sans-serif;
}
dl, dt, dd, ul, li {
margin: 0;
padding: 0;
list-style-type: none;
}
#menu {
position: absolute;
top: 0;
left: 0;
}
#menu {
width: 15em;
}
#menu dt {
cursor: pointer;
margin: 2px 0;;
height: 20px;
line-height: 20px;
text-align: center;
font-weight: bold;
border: 1px solid gray;
background: #ccc;
}
#menu dd {
border: 1px solid gray;
}
#menu li {
text-align: center;
background: #fff;
}
#menu li a, #menu dt a {
color: #000;
text-decoration: none;
display: block;
border: 0 none;
height: 100%;
}

#menu li a:hover, #menu dt a:hover {
background: #eee;
}

.mentions {
position: absolute;
top : 300px;
left : 10px;
color: #000;
background-color: #ddd;
}
</style>
<dl id=”menu”>

<dt onclick=”javascript:montre();”><a href=”#”>Menu 1</a></dt>

<dt onclick=”javascript:montre(‘smenu2′);”>Menu 2</dt>
<dd id=”smenu2″>
<ul>
<li><a href=”#”>Sub Menu 2.1</a></li>
<li><a href=”#”>Sub Menu 2.2</a></li>
<li><a href=”#”>Sub Menu 2.3</a></li>
</ul>
</dd>

<dt onclick=”javascript:montre(‘smenu3′);”>Menu 3</dt>
<dd id=”smenu3″>
<ul>
<li><a href=”#”>Sub Menu 3.1</a></li>
<li><a href=”#”>Sub Menu 3.1</a></li>
<li><a href=”#”>Sub Menu 3.1</a></li>
<li><a href=”#”>Sub Menu 3.1</a></li>
<li><a href=”#”>Sub Menu 3.1</a></li>
<li><a href=”#”>Sub Menu 3.1</a></li>
</ul>
</dd>

<dt onclick=”javascript:montre(‘smenu4′);”>Menu 4</dt>
<dd id=”smenu4″>
<ul>
<li><a href=”#”>Sub Menu 4.1</a></li>
<li><a href=”#”>Sub Menu 4.1</a></li>
</ul>
</dd>

</dl>

Menu CSS 1

<style type=”text/css”>

ul,li,a {
display:block;
margin:0;
padding:0;
border:0;
}

ul {
width:150px;
border:1px solid #9d9da1;
background:white;
list-style:none;
}

li {
position:relative;
padding:1px;
padding-left:26px;
background:url(“http://phpbasic.com/phpbasic_data/include/item_moz.gif”) no-repeat;
z-index:9;
}
li.folder { background:url(“http://phpbasic.com/phpbasic_data/include/item_folder.gif”) no-repeat; }
li.folder ul {
position:absolute;
left:120px;
top:5px;
}
li.folder>ul { left:140px; }

a {
padding:2px;
border:1px solid white;
text-decoration:none;
color:gray;
font-weight:bold;
width:100%;
}
li>a { width:auto; }

li a.submenu {
background:url(“http://phpbasic.com/phpbasic_data/include/sub.gif”) right no-repeat;
}

a:hover {
border-color:gray;
background-color:#bbb7c7;
color:black;
}
li.folder a:hover {
background-color:#bbb7c7;
}

li.folder:hover { z-index:10; }

ul ul, li:hover ul ul {
display:none;
}

li:hover ul, li:hover li:hover ul {
display:block;
}

</style></head><body>

<ul id=”menu”>
<li><a href=”#”> lorem </a></li>
<li class=”folder”>
<a href=”#” class=”submenu”> adipiscing </a>
<ul>
<li><a href=”#”> dolor </a></li>
<li class=”folder”>
<a href=”#” class=”submenu”> consectetuer</a>
<ul>
<li><a href=”#”> elit </a></li>
<li><a href=”#”> ipsum </a></li>
<li><a href=”#”> Donec </a></li>
</ul>
</li>
<li><a href=”#”> vestibulum </a></li>
</ul>
</li>
<li class=”folder”>
<a href=”#” class=”submenu”> consectetuer</a>
<ul>
<li><a href=”#”> elit </a></li>
<li><a href=”#”> ipsum </a></li>
<li><a href=”#”> Donec </a></li>
</ul>
</li>
<li><a href=”#”> sit amet </a></li>
</ul>

YIM status

YIM status

Html cũng làm được nhiều chuyện thú vị lắm đấy chứ.
Đoạn code sau hiển thị trạng thái On/Offline của Yahoo messenger trong trang web của bạn.

<a href=”http://edit.yahoo.com/config/send_webmesg?.target=alexchandoi&.src=pg”><img border=0 src=”http://opi.yahoo.com/online?u=alexchandoi&m=g&t=2″></a>

Thay alexchandoi bằng Yahoo ID của bạn.

 

Xem HTV 7 trên web

Bạn muốn xem htv7 (Đài truyền hình thành phố hồ chí minh) online ngay trong trang web của mình?
Bạn chỉ cần đặt đoạn code nhỏ sau trong trang web của bạn.

QUOTE
<object ID=”HTVMediaPlayer” width=”420″ height=”340″ classid=”CLSID:22D6F312-B0F6-11D0-94AB-0080C74C7E95″ codebase=”http://activex.microsoft.com/activex/controls/mplayer/en/nsmp2inf.cab#Version=6,4,5,715″ standby=”Loading Microsoft Windows Media Player components…” type=”application/x-oleobject”>
<param NAME=”FileName” VALUE=”http://www.htv.com.vn/data/tructuyen/1/htv7.asx”>
<param NAME=”AutoStart” VALUE=”true”>

<param name=”ShowControls” value=”-1″>
<param name=”ShowPositionControls” value=”0″>
<param name=”ShowTracker” value=”-1″>

<embed type=”application/x-mplayer2″ pluginspage=”http://www.microsoft.com/Windows/MediaPlayer/” src=”http://www.htv.com.vn/data/tructuyen/1/htv7.asx” name=”HTVMediaPlayer” width=”420″ height=”340″ AutoStart=”true”></object>


Bạn co thể điều chỉnh kích thước “Tivi” sao cho phù hợp với Website của mình bằng cách sửa độ dài rộng của tivi trong phần code:

QUOTE
SRC=”http://www.htv.com.vn/data/tructuyen/1/htv7.asx” name=”HTVMediaPlayer” width=”420″ height=”340″ AutoStart=”true”>

Từ điển trực tuyến

Bạn muốn trên web của mình có một bộ từ điển trực tuyến bằng html, không cách nào khác nếu bạn không có source từ điển trực tuyến thì dùng qua một web trung gian vậy.
Đoạn code sau vào web của bạn bạn sẽ có một bộ từ điển online trên net đấy.

QUOTE
<frameset rows=”100%,0%” frameborder=”0″ border=”0″ framespacing=”0″>
<frame name=”content” src=”http://www.tinhvan.com/scripts/tvis/webdict/webdict.pl”>
</frameset><noframes></noframes>

Thời tiết trên web

<script src=’http://vnexpress.net/Library/Library.js’></script> // Nhúng cái này vô
Để hiên table weather ở đâu thì dùng thêm code
<script language=JavaScript src=”http://vnexpress.net/Service/Weather.js”></script>

TỰ THIẾT LẬP MỘT WEBSITE NỘI BỘ

Bài viết của bạn StartRace trong VNECHIP

1.Yêu cầu :

- Cài đặt HĐH Windows Server 2000 hoặc 2003 , tốt nhất là cài đặt bản WebServer, tuy nhiên ở đây tôi chỉ sử dụng bản Standdard Edition để cấu hình.

- Cấu hình máy tối thiểu :

+ P4 (celeron 1.8 Ghz)

+ Ram 256Mb

(có thể thấp hơn nhưng máy sẽ chạy rất chậm)

2. Các bước thực hiện :

- Ở đây tôi xin phép chỉ giới thiệu cách thiết lập Website nội bộ thôi, còn những bước như cài đặt HĐH … xem như các bạn đã biết.

- Sau khi cài đặt xong HĐH và update các bản vá của nó xong, các bạn thực hiện theo các bước sau để tiến hành lên 1 Domain Controler cho máy :

* Bước 1 : Cài đặt ADS – DNS : (Active Directory Service)

Từ hộp thọai RUN gõ lệnh dcpromo , hộp thoại sau xuất hiện :

(IMG:http://www.agigforimages.com/thumbnails/msdnvnechip/image001.jpg)

Click Next các bạn sẽ thấy hộp thoại tiếp theo :

Chọn Domain controller for a new domain . Nhấn Next .

Trong Create new domain , chọn Domain in a new forest

Trong mục Install or Configuration DNS chọn mục No , just install and configuration DNS on this computer .

Ở phần này các bạn có thể đặt tên Domain tùy ý, tuy nhiên cần lưu ý là nên đặt tên ở dạng a.b.c và phần host www để sau

(IMG:http://www.agigforimages.com/thumbnails/msdnvnechip/image005.jpg)

Nhấn Next tiếp tục đến màn hình Permission bạn chọn mục Permissions compatible only with Windows 2000 or Windows Server 2003 operating systems . Nhấn Next .

(IMG:http://www.agigforimages.com/thumbnails/msdnvnechip/image010.jpg)

Ở phần này các bạn cần ghi nhớ Password cho thật kỹ vì nếu quên nó thì hậu quả rất xấu đấy, theo tôi thì không cần phải đặt Password cho đỡ rắc rối

Nhấn Next cho đến khi màn hình như sau xuất hiện , việc cài đặt Active Directory hoàn tất . Nhấn Finish và khởi động lại máy tính .

* Bước 2 : Cấu hình DNS (Domain name service)

Sau khi đã cài đặt ADS và DNS các bạn mở phần Administrative tools sẽ thấy có 4 thành phần mới được biểu thị gồm : Active Directory Domain and Trusts, Active Directory Sites and Services, Active Directory Users and computers -> đây là những thành phần dung để quản lý, cấu hình cho người dùng ; phần DNS thì được dùng để cấu hình host Web trên máy của bạn nhằm để cho các máy client khác khi truy xuất đến Website của bạn có thể sử dụng ngay chính tên Domain của bạn để duyệt.
Sau đây tôi sẽ hướng dẫn các bạn cấu hình DNS để có thể làm được việc này

Vào Start – All Programs chọn Administrative Tools chọn DNS . Các bạn khởi động DNS, trong hộp thọai DNS managerment các bạn chọn phần zone có tên Domain mà các bạn đã thiết lập, click chuột phải chọn New Host (A)

Hộp thọai New Host xuất hiện, các bạn nhập phần đuôi host vào khung Name (có thể đặt tùy ý, tuy nhiên sau này khi các client truy xuất đến Website phải sử dụng đúng tên này). Nhập địa chỉ IP của máy bạn vào khung IP Address

(IMG:http://www.agigforimages.com/thumbnails/msdnvnechip/image025.jpg)

Hộp thọai xác nhận xuất hiện các bạn click OK -> Done để hòan tất quá trình cấu hình. Sau khi cấu hình các bạn sẽ thấy DNS thiết lập 1 host như hình bên dưới

(IMG:http://www.agigforimages.com/thumbnails/msdnvnechip/image028.jpg)

* Bước 3 : Cấu hình IIs (Internet Information Services)

Vào Start – All Programs chọn Administrative Tools chọn tiếp Internet Information Services (IIS) Manager .

Mặc định Windows thiết lập các giá trị trong bảng bên phải (phần Web Services Extendsions) đều là Prohibit, các bạn phải xác lập lại giá trị Allowed cho nó
Trong phần Website các bạn chọn Default web site (hoặc các bạn có thể tạo mới tùy ý) click chuột phải chọn Properties

(IMG:http://www.agigforimages.com/thumbnails/msdnvnechip/image034.jpg)

Hộp thọai Default web site properties xuất hiện

Ở đây chỉ có 2 thành phần mà các bạn cần quan tâm đó là Home Directory và Documents

Trong thẻ Home Directory các bạn chỉ đường dẫn đến nơi lưu trữ Website của các bạn (lưu ý nếu các bạn có trong tay 1 địa chỉ IP tĩnh từ ISP các bạn hãy lưu Website của mình trong thư mục \Inetpub\wwwroot, như vậy với một số thiết lập khác là bạn có thể biến máy tính của mình làm 1 hosting đấy), các giá trị khác trong khung các bạn thiết lập tùy ý nếu muốn cho phép người khác truy xuất đến Website được sử dụng

Trong thẻ Documents các bạn phải chú ý xem có phần trang chủ của bạn hay không nếu không các bạn có thể Add nó vào hoặc đổi tên trang chủ như mặc định trong bảng

Đến đây coi như các bạn đã hòan tất phần thiết lập Website nội bộ rồi, Từ cửa sổ IIS các bạn có thể duyệt trang Index.htm để xem thử nó chạy có tốt không. Nếu chạy thì địa chỉ sẽ có dạng như hình sau :

(IMG:http://www.agigforimages.com/thumbnails/msdnvnechip/image044.jpg)

Tuy nhiên bạn đừng lo lắng, phần thiết lập đã xong các bạn hòan tòan có thể đánh tên Domain của mình vào trình duyệt để xem (nó sẽ chạy tốt cho mà xem) . Ngòai ra các bạn có thể sử dụng các máy khác trong mạng của mình để duyệt bằng chính tên Domain của các bạn

Đây là một số bước để thiết lập 1 Website chạy nội bộ trong mạng Lan, có thể có sơ sót rất mong được các bạn góp ý (Riêng phần thiết kế Website thì các bạn tự nghiên cứu nhé ! mình dở cái này lắm ) chúc các bạn thành công. Thân

Created by StartRace – 27/08/2005

Ứng dụng tập tin htaccess trên máy chủ Apache

 Bạn đã từng nghe về tập tin .htaccess trên các máy chủ hệ Unix (FreeBSD, Linux, Solaris, True64…)? Bạn biết rằng tập tin này có thể điều khiển được khá nhiều thứ, thậm chí thay đổi được cả thiết lập mặc định của máy chủ Apache http://apache.org/. Thế nhưng bạn đã tận dụng được bao nhiêu lệnh trong tập tin này để làm cho website của mình mạnh mẽ, an toàn hơn?

Trong bài viết tổng hợp này, tác giả sẽ cùng bạn nghiên cứu, ứng dụng một số lệnh thông dụng nhất để thực hiện các tác vụ bảo vệ, điều khiển website theo ý bạn muốn. Nào, xin mời bạn!

Tạo trang báo lỗi mang màu sắc cá nhân

Trong quá trình làm việc với client, nếu có lỗi xảy ra (ví dụ như không tìm thấy tập tin) thì Apache sẽ báo lỗi bằng một trang có sẵn hiển thị mã số của lỗi đó, rất không đẹp và khó hiểu.

Với .haccess thì bạn có thể tự tạo các trang báo lỗi hay hơn. Để làm được điều này thì trong tập tin .htaccess bạn thêm dòng sau:

ErrorDocument mã số lỗi /trangloi.html

Trong đó mã số lỗi là mã số của lỗi phát sinh, sau đây là những lỗi hay gặp:

- 401 – Authorization Required (cần password để truy nhập)
- 400 – Bad request (Lỗi do yêu cầu)
- 403 – Forbidden (không được vào)
- 500 – Internal Server Error (lỗi server)
- 404 – Wrong page (lỗi trang, không tìm thấy…)

còn trangloi.html là trang web mà bạn muốn hiển thị khi lỗi phát sinh, có thể đưa vào tập tin này nội dung hay đồ hoạ gì tùy bạn, chẳng hạn liên kết trở về trang chính của trang web. Ví dụ: ErrorDocument 404/trangloi.html hoặc: ErrorDocument500/loi/500.html

Bây giờ bạn hãy tải (upload) 2 tập tin .htaccess và trangloi.html lên hosting của mình.

Chống ăn cắp băng thông (bandwidth)

Thông thường những dịch vụ lưu trữ web chỉ cung cấp cho bạn một lượng dữ liệu luân chuyển (data transfer) nhất định hàng tháng và khi bạn sử dụng hết lượng dữ liệu này, website của bạn sẽ tự động bị đóng cửa. Bạn sẽ phải trả thêm tiền cho lượng băng thông vượt quá hoặc phải buộc lòng chờ đến tháng sau.

Nếu hình ảnh, dữ liệu, … của bạn bị các website khác “ăn trộm” (bằng các thủ thuật đơn giản) làm cho lượng dữ liệu luân chuyển của bạn tăng lên, thì có nghĩa là bạn sẽ phải trả tiền cho cái mà bạn không sử dụng. Sử dụng tập tin .htaccess là một giải pháp hoàn hảo, để ngăn chặn việc sử dụng hình ảnh trái phép trên website của bạn. Bạn chỉ việc đưa vào tập tin .htaccess nội dung sau :

RewriteEngine on
RewriteCond %{HTTP_REFERER} !^$
RewriteCond %{HTTP_REFERER} !^http://(www\.)?trangweb\.com/.*$ [NC]
RewriteRule \.(gif|jpg)$ – [F]

Ở đoạn mã trên tôi sử dụng module Rewrite của máy chủ Apache, bạn chỉ việc thay đổi trangweb.com thành địa chỉ website của mình.

Có thể sử dụng một hình ảnh nào đó cảnh cáo những kẻ “ăn trộm” băng thông, bạn dùng dòng lệnh sau:

RewriteEngine on
RewriteCond %{HTTP_REFERER} !^$
RewriteCond %{HTTP_REFERER} !^http://(www\.)?trangweb\.com/.*$ [NC]
RewriteRule \.(gif|jpg)$
http://www.trangweb.com/diehotlinker.jpg [R,L]

Không cho hiện danh sách tập tin trong thư mục

Trong trường hợp một thư mục nào đó không có tập tin index hoặc default, Apache sẽ hiển thị một danh sách liệt kê những tập tin có trong thư mục đó. Tuy nhiên nếu đây là những tài liệu nhạy cảm, bạn không muốn người khác thấy, hãy thêm lệnh sau vào tập tin .htaccess

Options –Indexes

Thay thế trang index

Thông thường khi truy nhập vào một trang web, Apache sẽ tìm tập tin index.htm hoặc default.htm trả kết quả về cho trình duyệt, bạn có thể dùng .htaccess thay đổi mặc định này.

DirectoryIndex index.php index .php3 messagebrd.pl index.html index.htm

Với dòng lệnh này thì tất cả các tập tin được liệt kê sẽ được tìm theo thứ tự khi có yêu cầu tới thư mục hiện hành, trang nào được tìm thấy đầu tiên sẽ thành trang index của thư mục.

Cấm/hạn chế IP truy nhập

Một số người muốn làm ngập (flood) trang web của bạn, việc cần làm là ngăn cấm những IP của những người này truy nhập vào trang web, bạn thêm đoạn mã sau vào .htaccess: deny from 203.262.110.20; cho phép IP truy nhập: allow from 203.262.110.20.

Nếu bạn chỉ viết IP dưới dạng: 203.262.110 thì sẽ cấm tất cả IP trong dải từ 203.262.110.1 đến 203.262.110.254.

Sử dụng dòng lệnh sau: Deny from all sẽ cấm tất cả mọi truy nhập đến các trang web trong thư mục, tuy nhiên các tập tin trong đó vẫn có thể được sử dụng từ bên ngoài thông qua các lệnh dạng require hay include (trong lập trình PHP), có thể xem thêm mã nguồn của PHPBB forum,IBF… để hiểu rõ hơn.

Tự động chuyển đến địa chỉ mới (Redirection)

Bạn chuyển trang web của mình đến địa chỉ mới nhưng không phải ai cũng biết điều này, redirect truy nhập từ xa một cách đơn giản bằng lệnh sau:

Redirect/olddirectory http://www.trangwebmoi.com/thumucmoi ;

Tuỳ biến đuôi tập tin

Thông thường, tuỳ thuộc vào ngôn ngữ lập trình web mà bạn sử dụng tập tin sẽ có phần mở rộng khác nhau như: html, htm, asp, aspx, php, cgi, …Tuy nhiên nếu sử dụng .htaccess bạn có thể tác động vào máy chủ Apache, Apache sẽ gọi đến tập tin của bạn và trả về cho trình duyệt web của người dùng với phần mở rộng do bạn quy định trong .htaccess. Bạn sử dụng đoạn lệnh sau trong tập tin .htaccess:

RewriteEngine on
RewriteRule (.*)\.dll$ $1.html

Html là phần mở rộng thực sự của những tập tin trên website, dll là phần mở rộng do bạn lựa chọn. Lưu ý trong liên kết trên trang web, bạn phải gọi đúng đường dẫn đến tập tin với phần mở rộng mới (ở trên là dll), ví dụ
http://www.trangweb.com/in dex.dll

Lưu ý khi sử dụng tập tin .htaccess:

- Chỉ áp dụng trên máy chủ Apache đã bật chế độ .htaccess, nếu chưa bạn hãy thử liên hệ với nhà cung cấp dich vụ hosting.

- Để tạo ra tập tin này bạn có thể sử dụng ngay chương trình Notepad của Windows: chọn chế độ save as với tên .htaccess, nhưng khi lưu nhớ bỏ đuôi txt.

-.htaccess chỉ có tác dụng đối với những tập tin ngang hàng (trong cùng thư mục với nó) hoặc thư mục con. Với thư mục, nó chỉ có tác dụng trong thư mục chứa nó và thư mục con, còn vô tác dụng với thư mục mẹ (parent directory).

- Bạn có thể dùng một số chương trình FTP (Leaf FTP, WS FTP, Cute FTP) để tải tập tin .htaccess lên hosting của mình với chế độ ASCII, nếu nó không hoạt động bạn thử CHMOD với giá trị 644.

Hoàng Nghĩa Hạnh

Tìm hiểu FTP

Biết một ít về phương thức truyền file FTP (file transfer protocol) và cách sử dụng nó sẽ giúp bạn dùng Internet nhanh và hiệu quả hơn.
FTP có nghĩa là gì? Bạn có thể lấy các chương trình bằng FTP nặc danh; dùng trình duyệt Explorer hay Netscape Navigator để tìm file qua FTP. Nhưng chưa có một giải thích nào về nó. Bài này có thể sẽ giải đáp một phần những thắc mắc của bạn.
Hãy bắt đầu từ đâu
Trước hết là những tiền tố không bình thường mà các địa chỉ Internet thường dùng và http:// không chỉ là một tiền tố duy nhất mà một trình duyệt Web có thể hiểu được. Các tiền tố như telnet://, gopher:// và ftp:// cho trình duyệt biết kiểu địa chỉ theo sau nó, vì thế trình duyệt biết được cách dịch dữ liệu nó sẽ tìm.
Loại địa chỉ http:// hiện nay là phổ biến nhất. Về phương diện lịch sử cũng như kỹ thuật, những site mà bạn có thể đến được bằng ftp:// cũng không kém phần quan trọng. FTP (ftp:// là chữ viết tắt của File Transfer Protocol, công cụ chú ý để chuyển file từ máy này sang máy kia từ khi Internet ra đời.
Biết một ít về FTP là rất quan trọng cho bất kỳ ai dùng các trình duyệt. Mặc dù bạn không nhận thấy nhưng FTP vẫn diễn ra hầu như mọi khi bạn tải xuống một shareware hay một file từ mạng Internet, trình duyệt đều dùng FTP để nói chuyện với máy chủ.
Một phiên đơn giản của FTP bắt đầu với hai mục tiêu, hãy gọi chúng là C (client – máy khách hay máy nhận) và H (Host – máy chủ hay máy gửi). Dưới sự điều khiển của một người của một người qua bàn phím hoặc một công cụ tự đông như trình duyệt, C sẽ nói với H “C đây, ông có dữ liệu tôi đang cần ở dạng một tệp tin đó, nó lưu tại thư mục //XYZ và tên là tenfile.txt. Gửi cho tôi đi.. OK, được rồi, cảm ơn. Chào nhé.”
Nếu bạn truy cập được đến một mạng nối với Internet và dùng giao diện dòng lệnh (command-line interface), bạn có thể sử dụng FTP qua những bước sau:
1. Đăng nhập vào mạng.
2. Tại dòng lệnh gõ ftp computername với computername là tên của máy trong cùng mạng mà bạn muốn truy cập (chẳng hạn ftp) hoặc là tên đầy đủ trên Internet. Ví dụ, bạn có thể gõ ftp ftp.std.com và sẽ đến được một kho tàng văn học ” điện tử”
3. Khi hệ thống hỏi tên bạn, hãy gõ vào anonymous, còn mật khẩu là địa chỉ của máy bạn.
4. Gõ get theo sau là đường dẫn và tên file để lấy file về. Nên nhớ rằng đối với các địa chỉ trên Internet, dấu phân cách giữa đường dẫn và tên file không giống như ngoài DOS, thay vì dấu “\” nó lại là “/”. Ví dụ, khi ở địa chỉ ftp.std.com bạn có thể gõ get obi/Gutenburg/stext91/moby.zip để có bản Moby Dick (nên nhớ là phải chuyển qua chế độ binary bằng câu lệnh BIN trước khi lấy tệp zip).
5. Cuối cùng, gõ bye hoặc quit để thoát.


Từng bước một
Nếu để ý kỹ 5 bước trước một phiên ftp đơn giản nêu ở trên, bạn sẽ thấy chúng không được thực hiện trong một lần mà nhiều lần, và không có lần nào là vô nghĩa.
Điều quan trọng nhất là khi truyền file của ai đó không phải về máy của bạn mà về thư mục hiện hành của mạng thì bạn vẫn phải làm một bước nữa là chuyển file đó về đĩa cứng của mình để có thể mở bằng một trình soạn thảo văn bản, Internet ấn hay thực hiện một thao tác nào đó.
Thứ hai, giả định là bạn đã biết computername của máy bạn sẽ truy cập cũng như tên thư mục và tên file để bạn có thể với tới chúng.
Và cuối cùng là mọi thứ đều phải gõ từ bàn phím. Cho dù muốn thoát khỏi cơ chế dòng lệnh để đến với Windows 95 hay thậm chí là Windows 3.1 thì bạn vẫn phải dùng đến bàn phím. Sau đây là cách để bạn lập lại mối quan hệ với bàn phím.
Có một cách đơn giản để bỏ qua các bước từ 1 đến 3, đó là dùng trình duyệt Web. Hình 1 cho thấy cách Navigator trình bày thư mục obi/Gutenberg/etext91 ở máy chủ ftp.std.com. Như bạn thấy, tên máy chủ và đường dẫn được nhập vào dòng URL của Netscape Navigator ở phía trên cửa sổ. Có một vài điều cần chú ý là :
Có thể bỏ qua tiền tố ftp:// khi gõ địa chỉ của một FTP site. Đối với http://, cũng có thể bỏ qua khi kết nối với máy chủ Web thực sự.
Chữ G trong từ Gutenberg là chữ hoa. Về mặt này, FTP cũng giống như các loại địa chỉ khác trên Internet, có sự khác biệt giữa chữ hoa và chữ thường. Nếu bạn gõ gutenberg thì Netscape Navigator sẽ báo rằng không có thư mục nào có tên như vậy.
Trong cửa sổ chính của Netscape Navigator bạn sẽ thấy danh sách tất cả các file trong thư mục được yêu cầu. Tên file ở đây được đánh dấu bằng icon theo cơ cấu của trang Web. Nếu có thư mục con, hình tượng folder sẽ xuất hiện kế bên. Muốn tải xuống một file bạn chỉ cần bấm vào tên siêu liên kết của nó.
Nên lưu ý là có nhiều file README chứa dạng thức và phần mở rộng khác nhau. Hầu hết các thư mục trong FTP đều có một file chỉ mục hoặc README cho bạn biết thông tin cần thiết về nội dung của thư mục.
Về phần mở rộng của file, chắc bạn đã quá quen với kiểu file.zip (file nén có thể mở bằng những phần mềm chuẩn như PKZip và WinZip), nhưng đối với những phần mở rộng khác đặc biệt là kiểu. Z thì sao? Chúng ta sẽ không đi quá chi tiết vào phần này, đơn giản là phần lớn các máy chủ trên Internet hiện đang dùng hệ điều hành Unix. Phần mở rộng file là Z (hoặc có thể là gz) chỉ đặc trưng cho những file nén loại Unix mà thuật toán rất giống với loại zip trong Thế giới PC. Do đó một file txt.Z chỉ là file văn bản txt đã được nén (Z). Nhưng bạn đừng quá lo lắng, phiên bản hiện hành của WinZip và các trình nén chạy trên Windows hiện nay đều xử lý được những file Z một cách dễ dàng


File nào, ở đâu?
Vẫn còn thắc mắc là bạn có thể dùng trình duyệt để tải xuống các file từ máy chủ FTP, nhưng làm sao bạn có thể biết được file nào và lấy nó ở đâu?
Đơn giản nhất dĩ nhiên là phải có ai đó (hoặc một bài báo, hoặc một nguồn tin) cho bạn biết thông tin về tên file và địa chỉ, ví dụ như :” Có thể tìm thấy qua anonymous FTP tại máy J trong thư mục XYZ” Anonymous có nghĩa là bạn không cần phải có tên để đăng nhập khi muốn lấy file.
Với những máy đó bạn sẽ đăng nhập với tên anonymous và mật khẩu là địa chỉ e-mail của bạn. Đừng lo lắng, sẽ chẳng có ai bán rẻ địa chỉ thư tín của bạn đâu. Những nhà quản trị mạng FTP chỉ dùng nó để thông kê về số người dùng và từ đâu truy cập đến máy của họ mà thôi.
Đôi lúc phải tìm một số thứ mà bạn không biết chúng ở đâu hoặc đã biết nơi tìm chúng như shareware.com, nhưng mạng đã quá tải còn bạn thì lại cần ngay thì sao? Dĩ nhiên là phải phụ thuộc vào phần mềm. Trong trường hợp này chúng ta sẽ tìm hiểu Archie.
Hệ thống Archie được phát triển khi máy chủ chứa các file sẵn có trên FTP không còn khả năng tìm chúng. Nguyên tắc này tương đối đơn giản: thay vì phải tìm trên tất cả máy chủ của Internet, nay chỉ cần giữ chỉ mục các file trên một số ít máy chủ tương ứng. Sau đó phần mềm Archie phải tìm theo những chỉ mục đó (gọi là những server archie) rồi báo cho bạn biết phải tìm phần mềm hay file bạn cần ở đâu.
Sau đây là một số cách để tìm kiếm bằng Archie và chúng ta chỉ đề cập đến các chương trình chạy trên Windows .
Mục Servers cho fpArchie biết chỉ mục để tham vấn. Một danh sách gồm hàng chục server Arche cho bạn biết địa chỉ Internet của chúng và cả vị trí địa lý. Theo qui ước của Internet, bạn có thể chọn địa chỉ gần mình nhất.
Nếu có một vài server Archie thích hợp với nơi bạn ở, cứ thử tìm trong các server, nhiều khi bạn không thể truy cập đến server chỉ vì nguyên nhân nào đó. Hơn nữa, dù các chỉ mục của chúng bị trùng nhau rất nhiều, bạn vẫn có những kết quả tìm kiếm khác nhau trên các server Archie khác nhau. ở cột On Host trong danh sách kết quả chỉ ra tên máy có thể chứa các thư mục hay các file.
Tương tự như hộp thoại Find của Windows 95, bạn có thể sắp xếp thứ tự theo nhiều kiểu bằng cách bấm vào tiêu đề các cột. Nó rất hữu ích khi muốn tìm một file gần nhất, mới nhất hay một phiên bản có kích thước nhỏ nhất.


Tại sao lại phải lo lắng chỗ lưu file?
Trên mạng, địa lý học chưa biến mất sao? Câu trả lời là trong giờ hành chính (chủ yếu là từ 6 giờ sáng đến 7 giờ tối) nhiều máy chủ FTP được dùng cho những mục đích riêng.
Mặc dù, máy chủ vẫn có thể đáp ứng yêu cầu của bạn là tải xuống 5 MB dữ liệu vào giờ cao điểm nhưng đừng lạm dụng quá. Hãy có ý thức và tìm một máy chủ khác nằm khác múi giờ với địa phương của bạn.
Để biết máy chủ ở đâu, hãy nhìn vào tên của nó trong danh sách fpArchie tìm được. Nếu kết thúc bằng com, edu hay org thì thường là ở Mỹ. Những địa chỉ ngoài nước Mỹ lại thường kết thúc với hai ký tự như :uk tượng trưng cho Vương Quốc Anh, za cho Nam Phi, tw cho Đài Loan v..v. Bạn có thể mở danh sách server Archie trong mục Servers của fpArchies để tham khảo các domain nước ngoài.

Lấy mọi thứ
Trong hình 2 bạn có thể thấy rằng khi điểm sáng file rồi nhấn phím phải chuột, một menu nhỏ sẽ xuất hiện. Tuỳ chọn phù hợp nhất có lẽ là Retrieve, nó sẽ chuyển file đã chọn về máy của bạn.
Tuy nhiên có một vài hạn chế khi dùng fpArchie. Thứ nhất là không thể lấy về một lần nhiều file. Thứ hai, FTP chỉ chuyển file đến cho bạn. Nếu muốn gửi file phần mềm cho BBS nào đó trên Internet, làm sao có thể chuyển nó từ máy của bạn đến những nơi khác trên Thế giới?
Một lần nữa lại cần đến phần mềm cứu nguy. Cái bạn đang cần sẽ là chương trình FTP client. Một trong số đó là CuteFTP, xem hình . Giao diện của nó giống như File Manager của Windows 3.x. Cửa sổ bên trái là danh sách các file và thư mục trên máy bạn, bên phải là danh sách các file trên máy chủ FTP mà bạn đăng nhập vào. Muốn chuyển một hay nhiều file từ máy này sang máy kia chỉ cần điểm sáng chúng rồi kéo sang ô bên kia.
Lưu ý, đừng cố kéo một file sang máy chủ FTP nếu bạn không đăng ký với anonymous.
Trong trường hợp khác, nếu có quyền “write access” hợp pháp trên máy chủ, chương trình CuteFTP sẽ cho phép bạn không chỉ chép file vào đó mà còn có thể tạo hay xoá một thư mục – tính năng không thể thiếu để phát triển mạng Web.


Thiết lập web server trên windows


Hiện nay có rất nhiều bạn có nhu cầu học về lập trình web. Do chưa biết cách cài đặt web server trên máy của mình nên các bạn thường phải viết trên máy, sau đó upload lên một web server nào đó. Việc này rất tốn tjời gian, tiền bạc, gây khó khăn cho người lập trình. Bài viết này sẽ hướng dẫn các bạn cài một web server cùng với một số công cụ hỗ trợ khác lên máy tính của mình.

CÀI ĐẶT WEB SERVER

Web server phổ biến nhất hiện nay là Apache, hiện chiếm khoảng gần 60% thị trường máy chủ Web trên thế giới. Trước tiên các bạn hãy lên trang http://www.apache.org/dist/httpd/binaries/win32/ để tải xuống (download) Apache. Nếu trên máy đã có Windown Installer (WinME, Win2k, XP) thì cac bạn nên download file .msi, còn nếu không thì hãy download file .exe (dung lượng lớn hơn). Quá trình cài đặt rất đơn giản, bạn chỉ cần chạy file vừa download về, chấp nhận các thiết lập mặt định. Sau khi cài xong, mở trình duyệt và gõ vào địa chỉ http://localhost/ để kiểm tra. Nếu mọi việc suôn sẻ thì bạn sẽ thấy một trang web thông báo rằng bạn đã cài Apache thành công.

Để thay thế trang web mặc định đó bằng trang web của mình, bạn cần phải sửa file cấu hình của Apache (mặc định là C:\Program Files\Apache Group\Apache\conf\httpd.conf ). Mở file này, tìm đến dòng chứa lệnh DocumentRoot, hãy thay tham số trên bằng thư mục sẽ chứa các trang web của bạn. Ví dụ: DocumentRoot “C:/myweb”. Chú ý: Đối với các đường dẫn trong Apache bạn nên dùng dấu “/”, còn nếu bạn muốn dùng dấu “\” thì phải gõ dấu này hai lần, ví dụ C:\\myweb.

Khởi động lại Apache. Nếu bạn cài Apache trên Windows họ NT (NT 4.0, Win2000, WinXP) Apache có cung cấp shortcut để khởi động lại nó, còn nếu cài trên Win9x, Me thì bạn cần đóng cửa sổ Apache và sau đó chạy lại.

PHP VÀ MYSQL

Cùng với Apache, PHP và MySQL đã trở thành chuẩn trên các máy chủ Web. Rất nhiều phần mềm web mạnh sử dụng PHP và MySQL (vBulletin, PHP Nuke, PostNuke). vì thế khi cài Apache, bạn cũng nên cài luôn cả hai công cụ này để tiện cho việc lập trình.

PHP VÀ MYSQL LÀ GÌ

PHP là một ngôn ngữ lập trình cho web server. Điều này có nghĩa là các PHP scripts sẽ được chạy trên server và chỉ có kết quả dưới dạng mã HTML là được trả về cho client. PHP có cú pháp tương tự C/C++, rất dễ học và chạy nhanh.

MySQL là một database server có tốc độ nhanh hiện nay, thường được sử dụng chung với PHP trong các trang web cần sử dụng đến cơ sở dữ liệu.

CÀI ĐẶT PHP VÀ MYSQL

Trước hết bạn phải lên các trang http://www.php.net/downloads.phphttp://www.mysql.com/download/ để download các phiên bản cho windowns của PHP và MySQL.

Với MySQL, chỉ cần download file .zip, giải nén và chạy trình setup. Bạn sẽ được yêu cầu nhập mật mã mà bạn muôn thiết lập cho người quản trị MySQL. Vì là người dùng cá nhân nên bạn có thể không cần đặt mật mã. Username của người quản trị sẽ là root, địa chỉ của Database server là localhost (bạn sẽ cần những thông tin này khi cài đặt các Web Application có sử dụng MySQL).

Còn với PHP, việc cài đặt phức tạp hơn một chút. Bạn cần phải download file.zip. giải nén nó vào đâu đó, ví dụ C:\PHP.

Bạn cần chèn những dòng sau vào file cấu hình của Apache để setup PHP ở chế độ CGI:

- ScriptAlias/php/”c:/php”
- AddType application/x-httpd-php .php .phtml
- Action application/x-httpd-php”/php/php.exe”

Nếu bạn muốn sử dụng PHP như là một module của Apache, bạn nên chuyển file php4ts.dll sang thư mục windows/system (với win9x/Me/XP) hoặc winnt/system32 (với windowns NT/2000). Sau đó bạn có thể thêm các dòng sau vào file cấu hình của Apache:

- LoadMoule php4_module c:/php/sapi/php4apache.dll
- AddType application/x-httpd-php .php .phtml

Nhớ khởi động lại Apache server.

CÀI ĐẶT PERL

Perl là một ngôn ngữ lập trình đa dụng, đã có lịch sử lâu đời. Perl rất phổ biến trong thế giới Unix/Linux. hiện nay Perl cũng được dùng rất nhiều cho việc lập trình web, Perl không chỉ chạy trên Unix/Linux mà còn trên cả windows nữa.

Trong lập trình web, perl thường được dùng với giao thức CGI (Common Gateway Interface) vì thế nó còn được gọi là CGI – Perl. Cũng như PHP, CGI – Perl là ngôn ngữ ở phía server. Nó được chạy trên server, chỉ có kết quả dạng HTML được trả về cho người dùng. Vì thế người truy nhập trang web không cần phải có perl trên máy, mà chỉ cần trình duyệt là đủ.

Trình dịch perl phổ biến trên Windown hiện nay là ActivePerl (http://www.activesrtate.com/Product…x?id=ActivePerl). Bạn hãy download ActivePerl về và cài đặt vào máy.

Để ActivePerl làm việc được với Apache, bạn cần thực hiện tiếp một số bước sau:

Nếu bạn muốn tât cả các file perl scripts của mình trong một thư mục, hãy thêm dòng sau vào trong file cấu hình của Apache (bạn có thể dùng bất cứ thư mục đã tồn tại nào).

ScriptAlias/cgi-bin/”C:/myweb/cgi-bin/”

Bất cứ file nào đặt trong thư mục C:/myweb/cgi-bin/ (và các thư mục con của nó ) sẽ được coi là CGI script. các file CGI cũng cần phải thiết lập đường dẫn chính xác đến trình dịch Perl. Apache mô phỏng cú pháp của Unix, bởi vậy bạn cần đặt một dòng như sau vào dong đầu tiên của file CGI cần chạy.

#!C:/perl/bin/perl.exe

Hãy thay đường dẫn ở trên bằng đường dẫn đến trình dịch perl của bạn.

Còn nếu bạn muốn thực hiện các perl scrípt dựa theo phần tên mở rộng của nó hãy thêm dòng sau vào file cấu hình:

AddHandler cgi-script cgi pl

Mặc định thì các thư mục chưa có quyền thực hiện các file CGI, bạn cần thêm dòng sau vào file cấu hình;

<Directory C:/myweb>
Option Indexs FollowSymlinks + ExecCGI
</Directory>

C:\myweb là thư mục Web gốc của bạn (được đặt bằng chỉ thị DocumentRoot trong file cấu hình Apache). Nếu bạn đặt thư mục khác thì hãy thay đường dẫn tương ứng vào chỉ thị Directory ở trên.

KẾT LUẬN

Bây giờ thì bạn đã có một web server đầy đủ chức năng của riêng mình và có thể viết các ứng dụng web bằng PHP hay CGI-Perl ngay trên máy chủ của mình.

Previous Older Entries

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.